Đo cao độ hình học bằng máy thủy bình là một trong những phương pháp xác định chênh cao được sử dụng phổ biến trong trắc địa và xây dựng. Phương pháp dựa trên tia ngắm nằm ngang của máy thủy bình kết hợp với số đọc trên mia, từ đó tính chênh cao và cao độ của điểm cần xác định.

Kỹ thuật này được ứng dụng trong truyền cao độ, san nền, thi công móng, kiểm tra cốt sàn, đường giao thông, nhà xưởng và quan trắc công trình.

1. Nguyên lý đo cao độ bằng máy thủy bình

Giả sử cần xác định cao độ điểm B khi đã biết cao độ điểm A.

Máy thủy bình được đặt giữa hai điểm A và B. Sau khi cân bằng máy, trục ngắm của ống kính tạo thành một đường ngắm nằm ngang.

Đặt mia lần lượt tại A và B:

  • Số đọc mia tại điểm A gọi là số đọc mia sau, ký hiệu a.
  • Số đọc mia tại điểm B gọi là số đọc mia trước, ký hiệu b.

Chênh cao giữa hai điểm được xác định theo công thức:

Trong đó, hAB là chênh cao từ A đến B; a là số đọc mia sau tại A và b là số đọc mia trước tại B.

Sau khi tính được chênh cao, cao độ điểm B được xác định:

HB = HA + hAB

hay:

HB = HA + a − b

2. Hiểu đơn giản nguyên lý qua một ví dụ

Giả sử mốc A đã biết:

HA = 10,000 m

Đọc mia sau tại A:

a = 1,325 m

Đọc mia trước tại B:

b = 0,875 m

Chênh cao:

hAB = 1,325 − 0,875 = +0,450 m

Do đó:

HB = 10,000 + 0,450 = 10,450 m

Như vậy điểm B cao hơn điểm A 0,450 m.

Một cách ghi nhớ rất nhanh:

Mia sau − Mia trước = Chênh cao.

Nếu kết quả dương, điểm B cao hơn A; nếu kết quả âm, điểm B thấp hơn A.

3. Phương pháp tính theo cao máy

Ngoài phương pháp chênh cao, trong thi công thường sử dụng cao máy để tính cao độ nhiều điểm từ cùng một trạm máy.

Cao độ tia ngắm hay cao máy được tính:

HI = HA + a

Sau đó cao độ điểm B:

HB = HI − b

Ví dụ trên:

HI = 10,000 + 1,325 = 11,325 m

Suy ra:

HB = 11,325 − 0,875 = 10,450 m

Kết quả hoàn toàn giống phương pháp tính chênh cao.

Phương pháp cao máy đặc biệt thuận tiện khi từ một vị trí đặt máy cần đọc mia tại B, C, D, E… để xác định cao độ của nhiều điểm.

4. Đo cao hình học từ giữa

Trong thực tế, phương pháp được sử dụng phổ biến là đo cao hình học từ giữa.

Máy thủy bình được bố trí tương đối giữa mia sau và mia trước sao cho khoảng cách ngắm tới hai mia gần bằng nhau.

Sơ đồ cơ bản:

Mốc A → Mia sau (a) → MÁY THỦY BÌNH → Mia trước (b) → Điểm B

Bố trí khoảng cách mia sau và mia trước tương đối cân bằng giúp hạn chế ảnh hưởng của một số sai số hệ thống, đặc biệt sai số liên quan đến đường ngắm.

5. Đo chuyền cao độ qua nhiều trạm máy

Khi A và B cách nhau xa hoặc địa hình không cho phép quan sát cả hai mia từ một vị trí, phải chuyển máy qua nhiều trạm.

Ví dụ:

A → TP1 → TP2 → TP3 → B

TP là điểm chuyển máy.

Ở mỗi trạm:

hi = ai − bi

Chênh cao toàn tuyến:

hAB = Σa − Σb

Và:

HB = HA + Σa − Σb

Trong quá trình này, tại điểm chuyển phải đặt mia ổn định. Sau khi chuyển máy, điểm vừa là mia trước của trạm trước sẽ trở thành mia sau của trạm tiếp theo.

6. Quy trình đo cao độ bằng máy thủy bình

Một ca đo cơ bản được thực hiện theo trình tự:

Bước 1: Xác định mốc cao độ gốc đã biết.

Bước 2: Đặt chân máy tại vị trí phù hợp, ưu tiên khoảng cách tới mia sau và mia trước tương đối cân bằng.

Bước 3: Lắp máy thủy bình và cân bằng thiết bị.

Bước 4: Đặt mia thẳng đứng tại mốc A, ngắm và đọc mia sau a.

Bước 5: Chuyển mia tới điểm B, đọc mia trước b.

Bước 6: Tính chênh cao h = a − b.

Bước 7: Tính cao độ điểm mới HB = HA + h.

Nếu tuyến dài, tiếp tục sử dụng điểm chuyển và lặp lại quy trình cho đến điểm cuối.

7. Ví dụ sổ đo chuyền cao

Giả sử cao độ mốc A là 25,000 m:

Trạm Mia sau a (m) Mia trước b (m) Chênh cao h (m) Cao độ điểm tới (m)
A → TP1 1,520 0,965 +0,555 25,555
TP1 → TP2 1,245 1,685 −0,440 25,115
TP2 → B 0,875 1,320 −0,445 24,670

Kiểm tra:

Σa = 3,640 m

Σb = 3,970 m

Do đó:

Σa − Σb = −0,330 m

Và:

HB = 25,000 − 0,330 = 24,670 m

Đây là phép kiểm tra số học rất hữu ích khi xử lý sổ đo ngoài hiện trường.

8. Những sai số thường gặp khi đo thủy bình

Độ chính xác không chỉ phụ thuộc vào bản thân máy. Một số lỗi phổ biến gồm mia không dựng thẳng, máy chưa cân bằng tốt, đọc nhầm vạch mia, ghi sai số liệu, khoảng cách mia sau và mia trước chênh lệch quá lớn, điểm chuyển không ổn định hoặc thiết bị có sai lệch đường ngắm.

Ngoài ra cần tránh đặt chân máy trên nền quá yếu hoặc khu vực có rung động mạnh.

Đối với công việc yêu cầu độ chính xác cao, cần áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, kiểm tra tuyến đo và sử dụng thiết bị đáp ứng yêu cầu của công trình.

9. Kiểm tra sai số khép tuyến

Trong đo chuyền cao độ, nếu tuyến bắt đầu từ mốc A và kết thúc tại mốc B mà cả hai mốc đều có cao độ đã biết, chênh cao lý thuyết là:

hAB(lý thuyết) = HB − HA

Trong khi chênh cao đo được:

hAB(đo) = Σa − Σb

Sai số khép cao độ:

fh = Σhđo − (HB − HA)

Sai số này phải được đánh giá theo cấp hạng đo, chiều dài tuyến và yêu cầu kỹ thuật áp dụng cho công việc cụ thể. Không nên sử dụng một giới hạn sai số duy nhất cho mọi loại công trình.

10. Ứng dụng của đo cao hình học

Phương pháp này được sử dụng rất rộng rãi cho truyền mốc cao độ; xác định cốt ±0.000; kiểm tra cao độ móng và sàn; san nền; thi công đường; hệ thống thoát nước; nhà xưởng; kiểm tra khối lượng đào đắp và quan trắc lún.

11. Ghi nhớ nhanh công thức đo cao độ

Nội dung Công thức
Chênh cao A → B hAB = a − b
Cao độ điểm B HB = HA + a − b
Cao máy HI = HA + a
Cao độ điểm B theo cao máy HB = HI − b
Chuyền nhiều trạm HB = HA + Σa − Σb

Chỉ cần nhớ nguyên tắc:

“Mia sau trừ mia trước – lấy cao độ điểm đã biết cộng chênh cao.”

Thiết bị thủy bình tại Trắc Địa An Phát

Ngoài kiến thức kỹ thuật, lựa chọn máy thủy bình có độ chính xác phù hợp và được kiểm tra trước khi đưa ra công trường cũng rất quan trọng.

Trắc Địa An Phát cung cấp các dòng máy thủy bình, mia nhôm, chân máy và phụ kiện trắc địa, đồng thời hỗ trợ tư vấn lựa chọn thiết bị theo yêu cầu thi công.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *